Bình giảng 20 dòng đầu của bài thơ Việt Bắc

Trong bài viết hôm nay, chúng tôi tổng hợp và chia sẻ những bài văn mẫu cảm nhận về 20 dòng đầu bài thơ Việt Bắc sẽ gợi ý cho các em học sinh kỹ năng làm bài, triển khai ý dễ dàng và hoàn thành bài. Bài luận của bạn là tốt nhất.

Cảm nhận về 20 dòng đầu của bài thơ Việt Bắc

Bài văn mẫu Cảm nhận về 20 dòng đầu của bài thơ Việt Bắc

Bình giảng 20 dòng đầu bài thơ Việt Bắc

Tố Hữu là một trong những nhà thơ lớn nhất, tiêu biểu nhất của nền thơ hiện đại. “Lá cờ đầu của thơ ca cách mạng, nhà thơ của lí tưởng cộng sản”. Tập thơ “Việt Bắc” là đỉnh cao của thơ Tố Hữu và cũng là thành tựu hàng đầu của thơ ca thời kỳ kháng chiến chống Pháp, trong đó bài thơ “Việt Bắc” được coi là kết tinh sở trường nghệ thuật của nhà văn. Tố Hữu.

Đó là bài ca tri ân của những người kháng chiến đối với quê hương, đất nước và nhân dân cách mạng, được thể hiện bằng nghệ thuật cổ điển và hiện đại, với cốt lõi là truyền thống ân nghĩa, đạo lý thủy chung của dân tộc. .

Được coi là người sinh ra để thơ hóa những vấn đề chính trị, thơ Tố Hữu luôn bám sát các sự kiện cách mạng. Theo năm tháng thơ Tố Hữu, chúng ta có thể tái hiện lại những chặng đường hào hùng của cách mạng Việt Nam. Thơ ông đúng là một “biên niên sử thi ca” như một số nhà nghiên cứu đã đánh giá. “Việt Bắc” cũng không ngoại lệ.

Tháng 7 năm 1954, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược được khôi phục thắng lợi, miền Bắc nước ta hoàn toàn giải phóng, mở ra một trang sử mới cho đất nước. Tháng 10 năm 1954, cơ quan Trung ương của Đảng và Nhà nước từ căn cứ ra thủ đô. Trong thời khắc lịch sử ấy, bài thơ “Việt Bắc” đã ra đời. “Việt Bắc” không còn là cảm xúc của riêng Tố Hữu mà còn tiêu biểu cho tình cảm của những người kháng chiến miền xuôi đối với chiến khu cách mạng, với đất nước, với đồng bào. Một sự kiện chính trị đã được chuyển thể thành thơ theo cách “Nhẩm tính là một đặc điểm của thơ trữ tình chính trị Tố Hữu. 20 câu thơ đầu của bài “Việt Bắc” thể hiện rất rõ nét đặc sắc nghệ thuật này.

Bài thơ mở đầu bằng những dòng ngọt ngào:

Em quay lại, anh có nhớ em không?
Mười năm ấy tha thiết mặn nồng.

Đoạn thơ mở ra cảnh chia tay, một tình huống đặc biệt để bộc lộ cảm xúc trữ tình dồi dào. Cảnh chia tay vốn vẫn quen thuộc trong thơ ca dân gian và cổ điển đã được Tố Hữu vận dụng tài tình để diễn tả tâm trạng của thời đại. Cuộc chia tay trọng đại của cán bộ Đảng, Chính phủ với Việt Bắc được ghi lại trong cuộc chia tay của một đôi trai gái: người ở lại rừng, chiến khu là cô gái Việt Bắc, người về là cán bộ lão thành cách mạng. Chuyện chung đã biến thành chuyện riêng, chuyện cách mạng của đất nước đã thành chuyện tình lứa đôi, sự chia tay kéo dài giữa những con người gắn bó lâu năm:

“Mười lăm năm” được Tố Hữu thể hiện bằng một thể thơ giàu tính dân tộc. Thể lục bát, kết cấu đối đáp, sử dụng đại từ nhân xưng “Ta”, “Ta” quen thuộc trong thơ ca dân gian, có khả năng “diễn đạt thuận tiện, phù hợp với tâm hồn chung của cộng đồng. Con người Việt Nam ”“ Rung động sợi dây chung trái tim Việt Nam ”. Tất cả những yếu tố đó đã nói lên tình cảm lưu luyến thiết tha trong một cuộc chia tay đặc biệt: không xa mà nhớ, chia nhưng không xa, không chia xa.

“Nếu có quay lại sẽ nhớ em” là sự thủy chung, riêng tư. Nhưng để:

“Anh về rồi, em nhớ không?
Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn.

thì không còn là chuyện tình yêu đôi lứa nữa, mà là chuyện trung nghĩa, chung thủy của đạo lý dân tộc. Câu thơ sóng đôi với từ “mình” nghe gợi tình cảm thân thương nhưng day dứt. Mối quan tâm lớn nhất của tôi trong cuộc chia tay là tình yêu chung thủy. Cái độc đáo ở chỗ: vấn đề thời gian, vấn đề không gian. Chỉ một khổ thơ thôi đã gói gọn cả một thời cách mạng, một trời cách mạng. Tác giả đã chọn tình yêu đôi lứa làm góc nhìn để bao quát toàn bộ Việt Bắc với “Mười bốn năm tình yêu nồng nàn say đắm” Từ tuổi thơ cách mạng đến khi trưởng thành vững vàng, đó là điểm nhìn nghệ thuật. Tố Hữu là nhà thơ luôn lấy cảm hứng từ những sự kiện trọng đại của cách mạng.

Tiếp theo câu hỏi của người ở trọ là tiếng lòng của người đi:

Tiếng ai thiết tha trong men rượu
Chán nản trong bước đi không ngừng nghỉ
Áo chàm chia ly
Chúng tôi nắm tay nhau, không biết nói gì

Khách qua đường nghe câu hỏi, lòng bồi hồi “bồn chồn” và một nỗi niềm “thèm” hoài niệm. Tâm trạng lúc chia tay được thể hiện rất đắt giá qua cách luyến láy và cả trong nhạc điệu của câu thơ: Hai câu đầu là câu lục bát nhịp 2/2 đã vặn nhịp 3/3:

“Buổi trao/chia tay áo chàm
Nắm tay nhau chẳng biết nói gì”

Nỗi xao động của lòng người đã rạo rực trên câu thơ thể hiện chút ngập ngừng đầy trìu mến, tạo nên một khoảng lặng đầy biểu cảm cho một loạt câu hỏi tiếp theo vang lên. cần thiết hơn.

Mười hai câu sáu tám còn lại là lời của người ở, gồm sáu câu hỏi như khắc sâu nỗi nhớ. Mỗi câu hỏi gợi lại những gì tiêu biểu nhất của Việt Bắc qua những hình ảnh gợi cảm chọn lọc: Mưa nguồn, suối lũ, mây, Những hình ảnh chọn lọc vừa hiện thực vừa thơ mộng; “Xám bạc đầy son” Những câu thơ có khả năng chuyển hoá những khái niệm trừu tượng thành những hình ảnh cụ thể sinh động “mối thù nặng vai”. Nghệ thuật nhân hóa còn tạo nên sự sống động cho hình ảnh thơ:

“Đi rừng nhớ ai.
Đầy mai rụng, mai già”

Tình cảm của người ở đối với người ra đi dường như được thể hiện sâu sắc hơn trong câu thơ này, vỏn vẹn 14 chữ mà chứa biết bao lưu luyến, nhớ nhung: Người đi rồi, cả một vùng rừng vắng, vắng vẻ. người hái, măng không ai hái, cả núi rừng mong mỏi mòn mỏi. Như một tập tục trong những cuộc chia tay giữa những người thân thiết, người ta thường đẩy thời gian về quá khứ để chưa quá xa nhớ, chưa biết thương. Trên nền cảm xúc ấy, dòng kí ức thân thương ùa về.

“Em đi anh có nhớ em không
Tân Trào, Hồng Thái, mái đình, cây đa “

Nhìn thoáng qua, tổ chức các câu thơ được lặp lại ở 6 câu đầu: Anh đi, em về. “Đi”, “Quay” vốn dĩ ngược hướng, nhưng ở đây lại cùng hướng.

Phải chăng niềm tin giản dị mà rất thực của cả người đi và người ở đã thổi vào câu chữ, tạo nên chút bối rối trong câu chữ, thể hiện mạch ngầm của văn bản trong chiều sâu thơ: Ra đi để hẹn ngày trở lại? . Việt Bắc trở thành quê hương thứ hai của những người cán bộ kháng chiến.

Những kỉ niệm được nhắc lại đều là những kỉ niệm chung sống, nghĩa tình của người cán bộ với nhân dân, cùng chia ngọt sẻ bùi, chung gian khổ, chung mối thù. Bài thơ sẽ trôi đi, không thể ở lại trong lòng người đọc. Cái làm nên nét riêng của bài thơ “Việt Bắc” cũng như của bài thơ này là nhạc điệu. Chính âm nhạc đã làm cho những kỉ niệm trở nên ngân nga, du dương, đi sâu vào tâm trí. Yếu tố làm nên nhạc điệu tuyệt diệu ấy không chỉ ở những câu lục bát rất chuẩn mực của thanh, mà còn ở nghệ thuật tri âm được sử dụng với tần suất cao trong các câu thơ. Nó không chỉ có khả năng diễn đạt rất cảm động những tâm tư sâu kín của con người sống trong đó mà còn tạo nên sự tương ứng về cấu trúc, vẻ đẹp về nhịp điệu của ngôn từ.

Mưa sông suối / mây cùng mùa
Miếng cơm/mối thù
Trám/ măng
Hắt hơi/son môi
Nhớ / tôi
Tân/đa

Những hình ảnh thơ đã thực sự nâng tầm chất thơ nhờ nhạc điệu trầm bổng, du dương, ngân nga qua các câu song thất lục bát, nó mang vẻ đẹp cổ điển, uyên bác. Đặc biệt câu hỏi ở cuối bài thơ có thể được tách ra một cách sâu sắc và súc tích:

“Tôi đi có nhớ tôi không
Tân Trào Hồng Thái mái đình cây đa”

Các đại từ “ta”, “ta” vốn được dùng trong đối đáp thơ ca dân gian, nay được Tố Hữu sử dụng đầy biến hóa: Khi anh là Ta, khi “ta” là “ta”, hàm ý hai là một. là rõ ràng. Nhưng ở đây có câu thơ lặp lại ba lần chữ mình: “Anh đi, anh có” là của người về, “nhớ em” là của người ở. Câu hỏi đầy ẩn ý mà sâu sắc: Quên cái “ta” cũng là quên cái “ta”. Cũng như ở phần sau, Tố Hữu lại nhấn mạnh tinh thần lễ nghĩa trong câu thơ trả lời khẳng định.

“Tôi đi đây, tôi sẽ nhớ chính mình
Bao nhiêu nước là cội nguồn bấy nhiêu yêu thương”

Nhà thơ đã khai thác rất tài tình từ “tôi” trong tiếng Việt. “Ta” vừa là ta vừa là ta, “Ta” cũng là thân cận, có thể coi là ta. Đại từ nhân xưng vừa thống nhất vừa chuyển nghĩa khiến “Việt Bắc” như một tiếng nói đồng thanh vang vọng sự đồng điệu của tâm hồn người ra đi.

Việc thay đổi vị trí trong tổ chức câu thơ: “Mái đình Hồng Thái, cây đa Tân Trào” được viết thành: “Tân Truyền Hồng Thái mái đình cây đa” chứng tỏ tên riêng và danh từ chung là hoàn toàn giống nhau về ý nghĩa. Ý nghĩa -Việt Bắc quê hương cách mạng. Nỗi nhớ chiến khu Việt Bắc “Tân Trào, Hồng Thái”, đã hóa thân thành nỗi nhớ quê hương “Mái đình cây đa” những hình ảnh đã đi vào tâm thức người Việt từ ngàn đời nay. “Trong thơ Tố Hữu, cái riêng và cái chung dường như không có ranh giới, cũ và mới đan xen, (Nguyễn Văn Hanh) mà đây là một trường hợp tiêu biểu.

“Việt Bắc” là một khúc ca tình cảm, ngọt ngào, đằm thắm rất tiêu biểu cho hồn thơ và phong cách thơ Tố Hữu. Vẫn giọng điệu yêu thương ấy, nhưng là tình yêu Tổ quốc, yêu cách mạng, yêu đồng bào.

Trong câu chuyện với một nhà nghiên cứu văn học Pháp, Tố Hữu đã tâm sự rằng: “Tôi đã yêu Tổ quốc và dân tộc tôi. Nói chuyện đất nước nói chuyện dân tộc như nói chuyện người mình yêu”. Thế là tình yêu hóa thành tình yêu “Việt Bắc” trở thành khúc hát ân tình của những người kháng chiến và của cả dân tộc trong thời khắc lịch sử đáng nhớ.

Có thể khẳng định đoạn thơ trên là dòng hay nhất của bài thơ “Việt Bắc”.

📌 Một số bài viết hay về thơ Việt Bắc
📝Phân tích 12 câu trong đoạn 3 Việt Bắc – Ngữ văn lớp 12
📝Phân tích 8 câu đầu của bài Việt Bắc – Ngữ văn lớp 12
📝Phân tích bức tranh tứ bình – Ngữ văn lớp 12
📝Cảm nhận về bức tranh tứ bình – Ngữ văn lớp 12
📝Phân tích Việt Bắc – Ngữ văn lớp 12
📝Phân tích khổ thơ 3 Việt Bắc – Ngữ văn lớp 12

https://thuthuat.taimienphi.vn/binh-giang-20-dong-dau-cua-bai-tho-viet-bac-42329n.aspx

Bạn thấy bài viết Bình giảng 20 dòng đầu của bài thơ Việt Bắc có giải quyết đươc vấn đề bạn tìm hiểu không?, nếu không hãy comment góp ý thêm về Những hình ảnh hài hước về Covid-19 bên dưới để tieuhocchauvanliem.edu.vn có thể chỉnh sửa & cải thiện nội dung tốt hơn cho độc giả nhé! Cám ơn bạn đã ghé thăm Website Trường Châu Văn Liêm

Chuyên mục: Ngữ Văn

Nguồn: Trường Châu Văn Liêm

Related Articles

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Back to top button