Đề thi chọn đội tuyển HSG Ngữ văn 10- Văn học trung đại

Đề thi chọn đội tuyển HSG Ngữ văn 10- Văn học trung đại

Đề thi chọn đội tuyển HSG Ngữ văn 10- Văn học trung đại

Hướng dẫn


HỘI CÁC TRƯỜNG CHUYÊN KHU VỰC

DUYÊN HẢI VÀ ĐBBB LẦN THỨ XI

TRƯỜNG PT VÙNG CAO VIỆT BẮC. TỈNH THÁI NGUYÊN

ĐỀ THI ĐỀ XUẤT

ĐỀ THI MÔN: NGỮ VĂN

KHỐI 10

(Đề này có 01 trang, gồm 2 câu )

Câu 1: ( 8,0 điểm)

Suy nghĩ của anh/chị về ý kiến sau của W. Churchill:

“ Chính vì ngược gió chứ không phải theo chiều gió mà những con diều bay lên cao mãi”

Câu 2: ( 12,0 điểm)

“ Văn học chẳng những giúp ta nhận ra cái thiện và cái ác,cái đúng và cái sai ở đời, mà còn khơi dậy ở ta những tình cảm thẩm mĩ phong phú, đa dạng”

( SGK văn 10 tập 2, Phần Văn học nước ngoài và Lí luận văn học, Nxb Giáo dục, Sách chỉnh lí hợp nhất năm 2000, tr 113 )

Anh/ chị hiểu ý kiến trên như thế nào? Hãy làm sáng tỏ qua một số tác phẩm văn học trung đại trong chương trình Ngữ văn 10.

……………………..HẾT …………………………

HƯỚNG DẪN CHẤM ĐỀ THI ĐỀ XUẤT THI HSG CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI VÀ ĐBBB LẦN THỨ XI

Môn Ngữ văn lớp 10

( HƯỚNG DẪN CÓ 05 TRANG)

* Câu 1 (8,0 điểm):

Học sinh có thể làm theo nhiều cách khác nhau. Tuy nhiên cần đảm bảo những yêu cầu cơ bản sau:

  1. Yêu cầu về kĩ năng:

– Thí sinh biết cách làm bài nghị luận xã hội.

– Có sự hiểu biết sâu sắc về kiến thức xã hội và biết cách vận dụng kiến thức xã hội vào bài văn một cách hợp lý.

– Bài viết có bố cục rõ ràng, lập luận và dẫn chứng thuyết phục; diễn đạt mạch lạc.

– Khuyến khích những bài viết sáng tạo.

  1. Yêu cầu về kiến thức:

Thí sinh có thể bộc lộ quan điểm của bản thân theo những cách khác nhau nhưng cần chân thành, hợp lí và thuyết phục. Về cơ bản, cần đạt được một số ý chính sau:

  1. Giải thích vấn đề

-“ ngược gió”: chỉ những trở ngại của hoàn cảnh, những khó khăn, trắc trở, nghịch cảnh con người không mong muốn

– “ theo chiều gió”: chỉ những thuận lợi, suôn sẻ, dễ dàng của hoàn cảnh

– “ con diều bay lên”: chỉ con người thành công

Với cách nói đầy hình ảnh, tác giả đem tới triết lí sâu xa: trong cuộc sống nhiều khi những khó khăn, trở ngại là bàn đạp đưa con người đến thành công

  1. Bàn luận, chứng minh:

+ Cuộc sống luôn tồn tại các mặt đối lập: thuận lợi-khó khăn; suôn sẻ, dễ dàng- trắc trở. Những trở ngại của cuộc sống kì diệu thay lại là chất xúc tác giúp con người đến mục tiêu.

>> Xem thêm:  Phân tích nhân vật Lục Vân Tiên trong truyện “ Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga”

+ Trải qua khó khăn, nghịch cảnh trong cuộc sống con người được tôi luyện rèn giũa ý chí, lòng can trường, mài sắc thêm quyết tâm, động lực vươn tới. Đối mặt với gian khó con người nhận ra và phát huy năng lực tiềm ẩn của chính mình.

+ Trải qua khó khăn con người sẽ thêm thấu hiểu những giá trị cao đẹp của cuộc đời, nếu chỉ “theo chiều gió” con diều không thể bay lên cao, thậm chí nó đáp mặt đất nhanh nhất. Không trải qua sóng gió con người dễ yếu mềm, đến khi chỉ gặp một chút trở ngại trong cuộc sống là đầu hang, nhụt chí buông xuôi, sống mất niềm tin, thậm chí đánh mất mình.

+ Làm thế nào để khi gặp khó khăn, trở ngại con người không đầu hàng?

  • Mỗi người cần rèn cho mình bản lĩnh sống vững vàng, sẵn sàng đối mặt với hoàn cảnh để vươn lên.
  • Hướng về những điều tươi sáng ở phía trước.
  • Vun đắp cho mình những giá trị sống cao đẹp.
  1. Nêu ý nghĩa của vấn đề

Ý kiến của W. Churchill sâu sắc đem đến cho mỗi người bài học về tinh thần tự vươn lên, cổ vũ mỗi người niềm tin vào bản thân, không ngừng phấn đấu, cố gắng để đạt được thành công..

Trong cuộc sống con người không ai mong muốn phải trải qua những khó khăn, chông gai để đến thành công.. Song

“ Nếu tất cả đường đời đều trơn láng

Thì chắc gì ta đã nhận ra ta”

Biểu điểm:

– Điểm 7- 8: Viết đúng kiểu bài nghị luận xã hội; trình bày vấn đề một cách sâu sắc, thuyết phục; văn phong chuẩn xác, biểu cảm; có thể mắc một vài lỗi nhỏ về chính tả và dùng từ.

– Điểm 5- 6: Viết đúng kiểu bài nghị luận xã hội; trình bày vấn đề cơ bản rõ ràng nhưng chưa thật sâu sắc; mắc một số lỗi nhỏ về diễn đạt và chính tả.

– Điểm 3- 4: Trình bày được khoảng một nửa yêu cầu về kiến thức; còn mắc lỗi về diễn đạt và chính tả.


– Điểm 1- 2: Bài viết tỏ ra chưa hiểu rõ vấn đề, lúng túng trong cách giải quyết, mắc nhiều lỗi diễn đạt và chính tả.

– Điểm 0: Bài viết lạc đề, hiểu sai vấn đề hoặc không viết gì.

>> Xem thêm:  Viết đoạn văn trình bày cảm nhận của anh (chị) về tình bạn của hai thi nhân trong Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng (Lí Bạch). Liên hệ với tình bạn trong cuộc sống, lao dộng, học tập của anh (chị)

*Câu 2 (12,0 điểm)

I.Yêu cầu về kĩ năng

  • Hiểu đúng yêu cầu của đề bài, biết cách làm bài nghị luận văn học, bố cục chặt chẽ, diễn đạt trong sáng, có cảm xúc, có hình ảnh; dẫn chứng chọn lọc, không mắc lỗi dùng từ, diễn đạt và ngữ pháp.
  • Biết vận dụng các thao tác nghị luận, giải thích, phân tích, chứng minh, so sánh thuần thục. Biết lựa chọn, phân tích tác phẩm thơ hoặc đoạn trích tiêu biểu làm rõ yêu cầu của đề

Biết cách đưa kiến thức lí luận văn học hợp lý.

Yêu cầu về nội dung

Thí sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau nhưng phải đảm bảo những ý cơ bản sau:

Giải thích:

  • Nhận định đã đề cập đến những chức năng cơ bản của văn học như: nhận thức, giáo dục, thẩm mĩ.

+ Văn học chẳng những giúp ta nhận ra cái thiện và cái ác,cái đúng và cái sai ở đời: văn học đáp ứng nhu cầu hiểu biết của con người, văn học thực sự trở thành “ cuốn sách giáo khoa của cuộc sống”,đồng thời có tác dụng rất lớn trong việc xây dựng nhân cách, giáo dục con người. Qua các tác phẩm người đọc hiểu đời, hiểu người thêm và làm phong phú thêm kinh nghiệm sống phong phú của mình

+ Văn học còn khơi dậy ở ta những tình cảm thẩm mĩ phong phú, đa dạng: nhờ có văn học mà đời sống tình cảm của con người ngày càng tinh tế, sâu sắc hơn. Cái hay, cái đẹp trong văn học tạo ra trong lòng người đọc những rung động thẩm mĩ, tình yêu đối với cái đẹp, thậm chí còn khơi dậy, kích thích năng lực sáng tạo, khám phá của mỗi người.

Như vậy văn chương nghệ thuật luôn giữ gìn và bồi dưỡng chất nhân văn, chất người cho con người, giúp con người hiểu biết mình hơn, thông cảm với người khác, có một cuộc sống phong phú, tinh tế, có ý nghĩa.

Bàn luận:

Khẳng định ý kiến đúng:

+ Tác phẩm văn học là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan. Mọi sự phản ánh trong văn học luôn gắn với tư tưởng, tình cảm, quan điểm của người viết. Người sáng tác qua tác phẩm của mình bao giờ cũng muốn đề nghị với người đọc một vấn đề nào đó, nhằm gợi lên ở người đọc một cách sống. Bởi vậy qua văn học, con người sẽ nhận thức, lớn lên, trưởng thành hơn.

>> Xem thêm:  Giới thiệu về đôi dép lốp trong kháng chiến – Đề và văn mẫu 8

+ Văn học nghệ thuật tồn tại với tư cách là một hình thái nhận thức, có tác dụng soi sáng, mở rộng sự hiểu biết cho con người. Văn học đưa ta tới những chân trời hiểu biết mới, giúp ta hiểu hơn về cuộc sống con người ở mọi không gian và thời gian. Từ đó giúp ta soi chiếu, liên hệ, nhận thức về chính bản thân mình.

Chứng minh:

+ Thí sinh chọn và phân tích một số tác phẩm văn học trung đại. Trong quá trình phân tích học sinh cần phải làm nổi bật rõ việc nhận thức được “ cái thiện”; “cái ác”; “cái đúng”; “cái sai” trong các tác phẩm đó như thế nào? Đã “ khơi dậy tình cảm thẩm mĩ” của con người ra sao?

Bài học sáng tạo và tiếp nhận:

+ Nhận định có tính định hướng cho người sáng tác và tiếp nhận văn học:

  • Với người sáng tác: Người nghệ sĩ phải sống sâu sắc với cuộc đời, trau dồi tài năng, làm phong phú giàu có thêm vốn ngôn ngữ.
  • Với người tiếp nhận:: Qua tác phẩm văn học, người đọc sẽ khám phá và lĩnh hội được những tình ý sâu kín nhà văn gửi gắm. Người đọc đến với tác phẩm văn chương để hiểu đời, hiểu mình.
  1. Đánh giá tổng kết vấn đề bàn luận

Biểu điểm:

– Điểm 11 – 12: Bài viết đáp ứng đầy đủ các yêu cầu trên, sâu sắc, độc đáo; diễn đạt lưu loát, câu văn giàu hình ảnh, cảm xúc; có thể mắc một vài lỗi nhỏ về chính tả và dùng từ.

– Điểm 9 – 10: Bài viết có nội dung tương đối đầy đủ (có thể còn thiếu một vài ý nhỏ); bố cục rõ ràng; diễn đạt trôi chảy; câu văn có hình ảnh, cảm xúc. Mắc một số lỗi nhỏ về chính tả, dùng từ, viết câu.

– Điểm 7 – 8: bài viết đáp ứng khoảng 2/3 nội dung cơ bản của đáp án. Văn có thể chưa hay nhưng rõ ý. Mắc một số lỗi chính tả, dùng từ, viết câu.

– Điểm 5 – 6: Bài viết đáp ứng khoảng ½ nội dung cơ bản của đáp án. Mắc nhiều lỗi hành văn, chính tả.

– Điểm 3 – 4: Hiểu và trình bày vấn đề còn sơ sài; kết cấu không rõ ràng; còn mắc nhiều lỗi diễn đạt.

– Điểm 1 – 2: Không hiểu đề, không có kĩ năng nghị luận, mắc quá nhiều lỗi diễn đạt.

– Điểm 0: Lạc đề hoàn toàn hoặc không viết gì.

Người ra đề

Vương Thị Vân Anh

Theo Vietvanhoctro.vn


Ghi nguồn bài viết: Đề thi chọn đội tuyển HSG Ngữ văn 10- Văn học trung đại – Tại – tieuhocchauvanliem.edu.vn

Chuyên Mục: Văn Mẫu Lớp 10

Xem Thêm:   Cảm nhận về nhân vật Việt trong truyện Những đứa con trong gia đình

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *