Phân tích bài “Hành lộ nan” của Lí Bạch

Phân tích bài “Con đường gian nan” của Lí Bạch

Hướng dẫn


Đề bài: Em hãy phân tích bài thơ Đường nan của Lí Bạch

Mở bài Phân tích bài “Tiêu Đường” của Lí Bạch

Một nhà thơ được coi là một trong những nhà thơ vĩ đại nhất đời Đường, đó là Lí Bạch, ông (701-762) tự là Thái Bạch, hiệu Thanh Liên cư sĩ, ông là một trong những nhà thơ lãng mạn. danh nhân thời Thịnh Đường nói riêng và Trung Quốc nói chung. Trong cuộc đời cao quý của mình, ông được ca ngợi là một thiên tài thơ ca, người đã mở ra thời kỳ hưng thịnh của thơ Đường. Ông là bạn thân của Đỗ Phủ, hai người bạn đã trở thành hai biểu tượng văn học tiêu biểu không chỉ trong nước mà còn khắp Đông Á. Lý Bạch đã viết hàng nghìn bài thơ bất hủ, hai bài thơ của ông được tập hợp trong “Hà nhạc anh linh tuyển tập”, một tuyển tập thơ đồ sộ. Cuộc đời của anh ấy là một huyền thoại, với phong cách tình yêu hiếm có, những câu chuyện ngụ ngôn và truyền thuyết về tinh thần của chính nghĩa, cũng như những câu chuyện nổi tiếng về việc anh ấy chết đuối khi nhảy khỏi thuyền để bắt thứ gì đó. bóng trăng. Ông mê ngao du sơn thủy nên xin rời thủ đô. Anh ấy có những bài thơ hay về những chuyến đi của mình.

Thân bài Phân tích bài “Tiêu Đường” của Lí Bạch

Chẳng hạn có tác phẩm Đường nan đi (Đường khó đi) viết năm 744 ngay sau khi rời hoàng cung rời thành Trường An. Chùm thơ “Trên đường nan” gồm 3 bài thơ, đây là bài thơ đầu tiên và cũng là bài thơ hay nhất, có tư tưởng lành mạnh, tích cực nhất. Tên bài thơ này vốn là tên một bài ca cổ, thường được dùng để nói về những nỗi khổ đau chia ly trong cuộc đời. Bài thơ được viết theo phong cách lãng mạn, thể hiện khí chất anh hùng, khí phách của một thi sĩ kiếm hiệp. Lí Bạch làm bài thơ theo thể “hành” gồm 12 câu, chia làm 3 phần, mỗi phần nêu một khó khăn gặp phải trên đường đời. Mỗi phần có cấu trúc giống nhau: 2 câu trên nói về khó khăn trên đường, 2 câu sau nói về hành trạng của kiếm sĩ.

Xem thêm: Phân tích bài thơ Khê oán của Vương Xương Linh Ngữ văn 10

Ngay từ khổ thơ đầu đọc ta đã thấy ý tứ của khổ thơ nói lên một “khó khăn”, một “khó khăn” phải vượt qua trên đường đời, có mấy ai vượt qua được? Cảm hứng thơ được khơi nguồn từ một văn thơ xưa: “Nhìn cơm nuốt không trôi. Rút gươm ngậm ngùi chặt đứt đoạn trường.” Tác giả đã tạo cho bài thơ có 4 hình ảnh tượng trưng độc đáo:

“Chén vàng, rượu trong, vạn một đấu

Mâm ngọc, nhắm quý, giá vạn”

Chén vàng, rượu trong, khay ngọc, cảnh vật quý là của ngon vật lạ trên đời, của quý hiếm, của cụ sang trọng. Ngày xưa chỉ vua chúa mới có. Trong bài thơ này, những thứ đó tượng trưng cho danh vọng, quyền lực và những thứ vật chất trong cuộc sống. Hai dòng thơ song song, thủ pháp nghệ thuật tuyên bố cực trái và cao sang: rượu ngon đấu giá vạn, nhằm giá quý vạn.

“Dừng chén, ném đũa, nuốt không trôi

Rút gươm nhìn quanh, lòng rộng bao la”.


Tiếp theo ở đoạn thơ này ta thấy tác giả đã sử dụng nghệ thuật tương phản, đối lập với sự cao sang ở hai câu thơ trên, ở đoạn thơ này là một thái độ phủ định quyết liệt. “Không nuốt nổi” là một biểu hiện của sự u uất xen lẫn chua xót, cay đắng. Mọi cử chỉ “ngưng chén”, “quăng đũa” hay hành động “rút gươm, ngó quanh” đều là thái độ tiêu cực của một kẻ sĩ chân chính. Bữa ăn đang diễn ra mà sao bỗng dừng lại, thái độ giận dữ, chàng không ăn nữa rút kiếm nhìn quanh mà lòng bao la như có điều gì đó tác động mạnh vào tâm hồn tác giả. Anh đã thoát ra khỏi cơn giận đó bằng cách viết bài “Con đường hàng tre” trong một buổi chiều mất điện và anh viết trần trụi, buổi chiều nhưng ngả dần về chiều, nắng của mùa hạ. Đó chỉ là bề nổi của bài thơ, sâu xa hơn nữa là sự khinh bỉ danh lợi, xa lánh phú quý. Cũng thể hiện sự tự do trong con người anh, anh muốn thoát khỏi nơi này với thanh gươm giương cao và đi đến muôn phương xa. “Lòng bao la” của nhà nho là một tâm hồn bay bổng, có chí khí phi thường. Năm 744, cầm gươm rời triều đình, chàng hiệp sĩ lên đường để thỏa mãn khát vọng tự do thể hiện nhân cách cao thượng của mình. Trong chốn quan trường ấy, ông là một ông quan hưởng vinh hoa phú quý, rượu thịt, đồ ngon mà ông vẫn cương quyết từ bỏ thì trên đời mấy ai làm được?

Xem thêm: Phân tích thiên nhiên trong khổ thơ 1 của hai bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” của Thanh Hải và “Sang thu” của Hữu Thỉnh.

Bốn câu thơ tiếp theo cho thấy cái “khó khăn” thứ hai của đường đời. Đó là những khó khăn khách quan, những khó khăn gian khổ chồng chất lên nhau:

“Muốn qua sông Hoàng Hà, sông băng đóng băng

Đi Thái Hằng núi tuyết phơi khô”

Đọc đến đây mới thấy sông rộng núi cao “Hoàng Hà”, “Thái Hàng” là khó dễ vượt qua. Khó khăn càng khó khăn hơn khi những dòng sông bị đóng băng và những ngọn núi phủ đầy tuyết, thật đáng sợ. “Muốn vượt qua”, “cố lên” không phải dễ, phải là người tràn đầy nghị lực và quyết tâm mới có thể vượt qua. Trước sự “khó khăn” này tác giả đã có cách ứng xử tích cực:

“Những lúc rảnh rỗi thả mình bên dòng suối xanh

Chợt mơ chèo thuyền cạnh mặt trời”

Đây là hai câu thơ đầy chất lãng mạn và chất thơ, giàu trí tuệ nên ứng xử thông minh. Có những khó khăn lớn chưa thể giải quyết trước mắt nên phải kiên nhẫn chờ đợi khi thời cơ đến. Hình ảnh thơ lãng mạn và khí phách hào hùng của tác giả. Trong cả bốn câu thơ này, tác giả đều chỉ ra rằng phải khôn ngoan và kiên nhẫn chờ đợi thời cơ, để giữ vững mục tiêu tiến lên trên đường đời. Không nên thấy khó mà bỏ cuộc, thấy khó mà ngại vượt qua.

Bốn dòng cuối bài thơ, giọng thơ vang lên dồn dập, mạnh mẽ. Cấu trúc câu thơ thay đổi nhanh chóng: điệp ngữ, điệp ngữ, câu cảm thán, câu hỏi tu từ. Lối ngắt nhịp 3/3 khắc họa những chặng đường gian nan, hiên ngang, quyết tâm của người lính anh dũng, dũng cảm:

Xem thêm: Cảm nghĩ về nhân vật Tô Hiến Thành qua bài Thái phó Tô Hiến Thành

“Hàng thô! Lộ trình nào!

Đa phương, Kim Ẩn tại?”

Có nhiều đoạn đường lên xuống quanh co, khó đi rất dễ bị lạc, mất phương hướng. Khó khăn này là khó khăn lớn nhất. Vậy con rận sẽ làm gì?

“Cưỡi gió đập sóng ắt có ngày

Hãy chèo những đám mây thẳng băng qua biển.”

Lộ trình rất xa, bao la: vượt biển, vượt đại dương. Phải có nghị lực phi thường, ý chí phải cao như núi. Ý thơ hào hùng, toát lên chí khí và sức mạnh của một nhà nho với niềm tin sáng ngời.

Kết bài Phân tích bài “Đi đường không” của Lí Bạch

Bài thơ đã cho ta thấy con người và tính cách của Lí Bạch, chỉ bằng vài nét chấm phá trong 12 câu, ông đã lột tả được hết những gian khổ mà con người phải đối mặt trong cuộc đời, những cám dỗ mà ít ai gặp phải. có thể vượt qua. Cho nên con người cần phải có ý chí vững như núi, vượt qua những trở ngại tầm thường thì con người mới thành thánh. Bài thơ đã thức tỉnh thế hệ trẻ phải có nghị lực kiên trì vượt qua khó khăn, không thấy gian khổ mà chùn bước. Cố gắng hết sức vì dân giàu, nước mạnh, văn minh.

Theo Nhungbaivanhay.vn


Bạn thấy bài viết Phân tích bài “Hành lộ nan” của Lí Bạch có giải quyết đươc vấn đề bạn tìm hiểu không?

Cám ơn bạn đã ghé thăm Website Trường Châu Văn Liêm

Chuyên mục: VĂN MẪU 10

Nguồn: Trường Châu Văn Liêm

Related Articles

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Back to top button