Phân tích bài thơ Tỏ lòng (Thuật Hoài) của Phạm Ngũ Lão


Các bài văn mẫu vào lớp 10

Phân tích bài thơ Tự thú (Thuật Hoài) của Phạm Ngũ Lão

Phân tích bài thơ Tự thú (Thuật Hoài) của Phạm Ngũ Lão

Phân công


Nói đến Phạm Ngũ Lão, ta nghĩ ngay đến người anh hùng xuất thân từ tầng lớp bình dân, đan thúng gánh nước. Sau này, chàng trai làng Phù Ủng ấy đã trở thành một nhân vật lịch sử có công lao to lớn trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông và giữ chức cao trong triều đại nhà Trần.

Khí thế hào hùng, oanh liệt của quân dân ta và tướng sĩ thời Trần được các sử gia ca ngợi là “hào khí Đông A”. Thơ văn thời Trần là tiếng nói của những anh hùng – thi sĩ tràn đầy cảm hứng yêu nước mạnh mẽ. “Hịch tướng sĩ” của Trần Quốc Tuấn, “Thuỷ Hoài” của Phạm Ngũ Lão, “Bạch Đằng giang phú” của Trương Hán Siêu.v.v… là những kiệt tác chứa chan tinh thần yêu nước và tự hào dân tộc. sắc tộc.

Phạm Ngũ Lão (1255-1320) là một danh tướng thời Trần, trăm trận trăm thắng, là một võ tướng tài ba. Trong tác phẩm của ông chỉ còn lại hai bài thơ: “Thuật Hoài” và “Văn Thượng Tướng Quốc Công Hưng Đạo Đại Vương”.

Bài thơ “Tỏ tình” thể hiện niềm tự hào về khí chất nam nhi và khát vọng chiến thắng của người anh hùng khi đất nước bị xâm lược. Đó là bức chân dung tự họa của danh tướng Phạm Ngũ Lão.

Hoành sóc Giang san Kháp Ký

Ba đội quân, hổ và làng bò

Nam tính liễu công danh còn lại

Tu nghe thuyết dân gian Vũ Hầu.

Cầm ngang ngọn giáo là một tư thế chiến đấu vô cùng dũng cảm. Câu thơ “Hoàng sóc giang sơn gặp thu” là một câu thơ có hình ảnh hào hùng, tráng lệ cả về chiều không gian (giang sơn) và chiều dài lịch sử (thuận nguyệt). Nó thể hiện tư thế của người lính “đồng bằng” khi ra trận kiêu hãnh, hào hùng như những người anh hùng trong truyền thuyết. Lòng yêu nước được thể hiện qua một bài thơ cổ kính: cầm ngang ngọn giáo, xông pha trận mạc suốt mùa thu để bảo vệ giang sơn thân yêu.

Xem thêm: Cảm nghĩ về lòng yêu nước của Trần Quốc Tuấn

Đội quân “Sát Thất” ra trận rất đông, trùng điệp (ba quân) với sức mạnh phi thường, mạnh như hổ, quyết đánh tan mọi kẻ thù xâm lược. Khí thế của đoàn quân ấy xông pha trận mạc. Không một thế lực nào, không một kẻ thù nào có thể ngăn cản được. “Khí thôn ngưu” có nghĩa là tinh thần, ý chí mạnh mẽ nuốt chửng sao Kim Ngưu, chế ngự và làm lu mờ sao Kim Ngưu trên bầu trời. Hoặc có thể hiểu: ba quân mạnh nuốt trâu. Biện pháp tu từ tạo nên một hình ảnh thơ hoành tráng, mang tầm vóc vũ trụ: “Ba Quan Sĩ khí hổ thôn Ngưu”. Hình ảnh so sánh ẩn dụ: “Ba quân, hổ…” trong thơ Phạm Ngũ Lão rất độc đáo, không những có sức thể hiện sâu sắc sức mạnh vô địch của đạo quân “Sát thất” mà còn khơi dậy cảm hứng thi ca. ; tồn tại như một điển tích, một thi liệu sáng giá trong nền văn học dân tộc:


-“Thuyền đầy đoàn;

Tinh thần rung động

Tam giáp, gươm giáo sáng ngời…” (Bạch Đằng giang phú)

Người lính “Đồng bằng xuôi” mang trong mình một ước mơ cháy bỏng: khát khao lập được chiến công để trả ơn vua, báo nợ nước. Thời đại anh hùng mới có khát vọng anh hùng! “Diệt giặc, báo ân” (Trần Quốc Toản) – “Đầu thần chưa rơi xuống đất xin người đừng lo” (Trần Thủ Độ). “…Dù trăm xác phơi cỏ, nghìn xác bọc da ngựa, ta cũng bằng lòng” (Trần Quốc Tuấn)… Khát vọng ấy là biểu hiện sáng ngời của tấm lòng trung nghĩa, yêu nước của các tướng lĩnh, khi tầng lớp quý tộc nhà Trần trong xu thế đi lên đang mang sứ mệnh lịch sử trọng đại. Họ mơ ước và tự hào về chiến tích hiển hách và võ công hiển hách của mình có thể sánh ngang với sự nghiệp anh hùng của Vũ Hầu Gia Cát Lượng thời Tam Quốc. Hai câu cuối dùng điển tích (Vũ Hầu) để nói về nợ công của kẻ sĩ trong thời loạn, chiến loạn:

Xem thêm: Thuyết minh về thánh địa Mỹ Sơn

“Danh tiếng của một người đàn ông vẫn còn nợ

Xấu hổ khi nghe câu chuyện của Wuhou ”

Cái “công danh” mà Phạm Ngũ Lão nói đến trong bài thơ là thứ công danh làm nên bằng máu lửa, bằng tinh thần dũng cảm, quyết thắng. Đó không phải là thứ “công danh” tầm thường, đậm màu sắc anh hùng cá nhân. Nợ công như một gánh nặng mà những kẻ làm trai nguyện trả, nguyện trả bằng máu và lòng dũng cảm. Không chỉ “Ngại nghe chuyện Vũ Hầu” mà còn học binh thư, luyện cung tên, sẵn sàng chiến đấu “Làm người giỏi như Bàng Mông, cả nhà đều là Hậu Nghệ không thể chôn đầu Hốt Tất Liệt ở cửa Khê , giết thịt Vân Nam Vương ở Cao Nhai,…” để Tổ quốc Đại Việt được bền vững trường tồn: “Đứng ngàn năm” (Trần Nhân Tông).

“Thuật Hoài” được viết theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt. Giọng thơ mạnh mẽ, hùng tráng. Ngôn ngữ thơ cô đọng, hình ảnh hào hùng, tráng lệ, giọng thơ trang nghiêm, trang nghiêm, mang đậm phong vị sử thi. Mãi mãi là bản hùng ca của các anh hùng, nghĩa sĩ thời Trần, sáng ngời “tinh thần Đông A”.



thẻ:
#dũng cảm #hịch tướng sĩ #học thuật #Phạm Ngũ Lão #phân tích thời thế #Thúy Hoài #Tự thú #Trần Quốc Tuấn #ước mơ #văn chương

Bạn thấy bài viết Phân tích bài thơ Tỏ lòng (Thuật Hoài) của Phạm Ngũ Lão có giải quyết đươc vấn đề bạn tìm hiểu không?
Nếu không hãy comment góp ý thêm bên dưới để tieuhocchauvanliem.edu.vn có thể chỉnh sửa & cải thiện nội dung tốt hơn cho độc giả nhé!
Cám ơn bạn đã ghé thăm Website Trường Châu Văn Liêm

Chuyên mục: Văn Mẫu Lớp 10

Nguồn: Trường Châu Văn Liêm

Related Articles

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Back to top button