Phân tích Cảm hoài của Đặng Dung

Phân tích bài Nỗi nhớ của Đặng Dung

Hướng dẫn


Đề bài: Em hãy phân tích bài thơ Cảm hoài của Đặng Dung

Mở bài Phân tích Nỗi Nhớ của Đặng Dung

Trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước, dân tộc ta đã trải qua biết bao thăng trầm. Song song với lịch sử phát triển của dân tộc là lịch sử của một nền văn học truyền thống, ở mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau lại có những thế hệ nhà văn, nhà thơ góp tên mình vào bản đồ văn học. học bài tại nhà. Trong nền văn học trung đại Việt Nam, chúng ta không thể không nhắc đến Đặng Dung, một tác gia trong thời kỳ hào khí Đông A, ông đã viết nên một tác phẩm mà cho đến nay vẫn còn được người đời lưu truyền. “Cảm hoài”.

Thân bài “Nỗi nhớ” của Đặng Dung

Cảm Mộ là một bài thơ tự sự bằng chữ Hán, được sáng tác trong hoàn cảnh ông đem quân đi giúp vua Trùng Quang Đế. Cảm hoài thể hiện chí khí sắt đá của chân dung người anh hùng tuy không gặp thời nhưng ở ông vẫn còn một chí lớn. Đặng Dung không chỉ là một vị tướng tài ba mà còn có tài văn chương kiệt xuất. Nhắc đến thơ ông, dường như một bức chân dung nhân cách của ông được thể hiện sâu sắc qua từng câu thơ. Bài thơ mở đầu bằng hai câu thơ ngắn nói lên khát vọng của tác giả. Mong muốn cống hiến tài năng, sức lực cho dân cho nước. Nhưng đồng thời nó cũng thể hiện sự bất lực, bất lực của chính tác giả trước tuổi cao mà trí tuệ chưa chín.

“Thế giới du hành và phàn nàn cũ ha

Vô cùng thiên địa nhập hàm ca.”

Luôn ý thức được trách nhiệm của bản thân với đất nước, dân tộc, tác giả càng thất vọng về giới hạn tuổi tác, nhưng không vì tuổi tác mà quên đi khát vọng trong con người mình. đồ giả. Theo tác giả, dù cuộc đời có bao la đến đâu thì vẫn phải dốc hết tâm sức để hoàn thành “Thế gian du, nại lão hà”. Ở hai câu thơ đầu này ta thấy được sự tài tình của tác giả khi đưa vào hai câu thơ biện pháp tương phản, đối lập hình ảnh của sự vật được nói đến, thể hiện sự tương phản trong ánh mắt. tác giả. Ở câu thơ thứ nhất là sự đối lập giữa cuộc sống bất tận với thực tại ta già, ở câu thơ thứ hai là sự đối lập giữa trời đất bao la và tiếng ca uống rượu. Qua những hình ảnh tương phản ấy, ta thấy được giới hạn của thiên nhiên, sự bao la của trời đất “vô cùng tận” và “thế gian” là vô tận, chỉ có cuộc sống và niềm vui của con người rồi sẽ tàn. sẽ đi đến hồi kết. Đó là sự tương phản giữa cái vô tận của cuộc đời và cái hữu hạn của kiếp người. Cả hai câu thơ như làm nguôi đi một chút buồn trong lòng người đọc như chính họ cũng đang chạnh lòng thương mình. Từ đó ta thấy được tâm trạng buồn, đau của tác giả về thế sự.

Xem thêm: Phân tích nỗi nhớ da diết của người chinh phụ trong bài Chinh phụ ngâm

“Tương lai của thuốc lá rất thành công

Quá khứ anh hùng chứa đầy hận thù.”

Không biết ngày xưa có anh hùng nào gặp chuyện như vậy không? Khi đến lúc, ngay cả những người bình thường cũng tạo ra vận may lớn. Còn kẻ anh hùng nếu không gặp thời thì chẳng khác gì người phàm. Ở đây tác giả mượn chuyện Phàn Khoái bán thịt, Hàn Tín câu cá sau giúp Hán Cao Tổ làm nên nghiệp lớn. Ở đây tác giả không muốn chê họ tầm thường, bất tài mà chủ yếu muốn nhấn mạnh rằng, người anh hùng không gặp vận may thì chỉ biết ôm hận, ghét bỏ những người bình thường nhưng nếu có vận may thì có thể làm nên chuyện. kinh doanh lớn. Tuy là bậc anh hùng, nhưng trong hai câu thơ này, tác giả tự mỉa mai mình đã cạn tình, dù có ước ao cũng không làm được gì để có thể giúp dân cho nước. Đi từ những hạn chế do chính mình nhận diện về mặt con người, tác giả chuyển sang nhấn mạnh tầm quan trọng của thời cuộc trong việc giúp dân giúp nước. Hai câu thơ tiếp theo, tác giả nói lên khát vọng lớn lao trong suốt cuộc đời mình.


“Trí tuệ của chúa luôn hài hòa với trục trái đất

Sắp xếp lại thiên hà.”

Xem thêm: Phân tích nhân vật Bá Kiến trong truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao

Ở đây xuất hiện hai hình ảnh “địa trục” và “thiên hạ”, hai hình ảnh này là những hình ảnh đẹp có khả năng biểu đạt khát vọng lớn lao. “Trục trái đất” ở đây có nghĩa là quay trục của trái đất và “thiên hà” có nghĩa là kéo dải Ngân hà xuống. Cả hai hình ảnh đều được phóng đại thể hiện khát vọng cao cả của Đặng Dung là đem hết sức lực, trí tuệ giúp nước, yên dân. Đồng thời cũng thể hiện sự bơ vơ của ông khi về già, qua hai câu thơ ta thấy được tâm trạng bi đát của nhà thơ. Thời trung đại, đứng trước những biến cố của lịch sử, các bậc anh hùng không dễ thi triển đại trí và Đặng Dung cũng vậy. Tâm nguyện của ông là dốc lòng phò tá vua chúa với hy vọng tạo nên nghiệp lớn như nâng đỡ cả trục trời đất. Ta có thể thấy khát vọng của nhà thơ thật cao đẹp, thật lớn lao, ông không chỉ là người có tài năng và trí tuệ lớn. Ông không đem những điểm mạnh đó để làm nên sự nghiệp cho riêng mình mà luôn trung thành với nhà vua cũng như triều đại mà ông đang sống. Khát vọng của anh mang tầm vóc vũ trụ vĩ đại, muốn bảo vệ đất nước, giang san. Ông không chỉ là người luôn có tâm với sự nghiệp, vận mệnh của quốc gia, dân tộc mà còn luôn đề cao cuộc sống hòa bình không có chiến tranh, tham lam và chia cắt chết chóc. Khát vọng ấy được thể hiện rất rõ trong câu thơ “Tẩy binh bất lộ hà” nghĩa là muốn lau binh giáp mà không kéo được ngân hà. Giặt áo giáp như muốn gột rửa nỗi đau trong lòng những chiến binh hỗn loạn. Khi con người không còn phải đối mặt với chiến tranh, cuộc sống sẽ bình yên và hạnh phúc. Khát khao được sống một cuộc đời không có lửa đạn và chết chóc, nhưng phần nào tác giả dường như đang nói về sự bất lực của chính mình.

Xem thêm: Nghị luận về sự trong sáng của tiếng Việt

“Quốc thù đệ nhất bạch báo

Thời kỳ Long Quân ở vùng Nguyệt Quỷ.”

Ở hai dòng cuối bài thơ, nhà thơ trở về với nỗi buồn đau của chính mình, đó là sự mâu thuẫn giữa khát vọng được cống hiến và giới hạn của kiếp người. Hai câu thơ thể hiện tài trang trí của nhà thơ là hình ảnh “bạch đầu” và “Long Tuyền kỳ”. Đây là tất cả các hình ảnh gần đúng. Câu thơ thứ nhất nói đến ước muốn cống hiến của nhân dân, điều đó còn thể hiện ở hành động quyết tâm “Long Tuyền nguyệt minh nguyệt” tức là đã bao lần đội trăng mài gươm báu của Long Tuyền. Hai câu thơ cuối vừa lột tả được tâm trạng buồn bã của một người kém may mắn nhìn cuộc đời với bao hoài bão còn dang dở. Tuy nhiên, điều khiến bài thơ không bi quan là sự xuất hiện của hình ảnh nhiều lần mài gươm dưới trăng. Hình ảnh này làm nổi bật khí phách của người anh hùng hay của chính tác giả.

Kết bài: Phân tích Cảm nghĩ của Đặng Dung

Đoạn thơ là một chuỗi cảm xúc thể hiện tình cảm của một người nhập thế, hết lòng vì dân, vì nước. Ông không chỉ nguyện cống hiến hết trí tuệ, tâm sức vì dân vì nước, vì đại nghĩa mà còn bày tỏ mong muốn nhân dân có cuộc sống bình yên không còn đau thương. Bài thơ mang âm hưởng bi tráng, triết lí sâu xa, nỗi uất ức mênh mông, không nguôi lớn lao với tấm lòng cao cả. Bài thơ không chỉ là bức chân dung khí phách của tác giả mà còn thể hiện hào khí của chí khí Đông A.

Theo Nhungbaivanhay.vn


Bạn thấy bài viết Phân tích Cảm hoài của Đặng Dung có giải quyết đươc vấn đề bạn tìm hiểu không?

Cám ơn bạn đã ghé thăm Website Trường Châu Văn Liêm

Chuyên mục: VĂN MẪU 10

Nguồn: Trường Châu Văn Liêm

Related Articles

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Back to top button