Soạn bài Hầu trời của Tản Đà


Các bài văn mẫu lớp 11

Soạn bài Hầu trời của Tản Đà

Soạn bài Hầu trời của Tản Đà

Hướng dẫn


I.Gợi ý trả lời câu hỏi

Câu 1. Phân tích khổ thơ đầu:

-Câu tác giả hỏi có vẻ khách quan: Câu chuyện tôi sắp kể “không biết có hay không”. Chắc chắn người nghe sẽ cho rằng đó là chuyện bịa đặt, nhưng tác giả khẳng định mình đang ở trạng thái rất bình thường “Không hoảng loạn, không mơ mộng” và câu chuyện có vẻ như là sự thật:

Hú hồn thật! Thật trơ trẽn! Cơ thể thật!

thực sự đầu tiên…

Thông điệp “True” kết hợp với hàng loạt biểu tượng cảm xúc khẳng định tính chân thực của câu chuyện tác giả sắp kể.

Cách vào đề nêu câu hỏi gợi trí tò mò ở người đọc, tạo sự lôi cuốn, muốn nghe tiếp câu chuyện.

Câu 2. Tác giả kể việc ông đọc thơ cho Trời và các nàng tiên nghe.

-Nhà thơ:

+ Phấn khởi lắm (Đọc hết văn vần đến văn xuôi; xong lý luận văn học là chơi)

+ Rất tâm đắc nên càng đọc càng có cảm xúc, càng đọc càng hay (văn càng dài càng hay).

-Các tiên nữ nghe thơ rất tán thưởng, thán phục (chú ý biểu hiện cảm xúc đa dạng qua các từ: nở hoa, lè lưỡi, cau mày, dựng tai, khao khát, tranh đấu…)

-Trời khen và không tiếc lời khen (khen hay, chê “văn hay) nhất là câu thơ:

Cảm ơn bạn đã viết đẹp như một tiếng nổ!

Khí thế hùng hậu như mây bay!

Nhẹ nhàng như làn gió, tinh khiết như sương mai

Phá như mưa, lạnh như tuyết!

Nghệ thuật so sánh làm nổi bật vẻ đẹp từ ngôn ngữ thơ đến thần thái, tâm hồn của nhà thơ. Mỗi cảm xúc là một sự ngưỡng mộ.

•Cảm nhận về nhân cách và tâm hồn thi sĩ Tản Đà qua đoạn thơ:

-Là người có tính cách rất “khẩu ngôn”: trong thế giới vật chất, thân phận nhà văn bị coi thường, khinh miệt, văn chương “rẻ như bèo”, Tản Đà tìm đến Trời để khẳng định tài năng của mình.

-Là người có ý thức cá nhân rất cao, dám tự khen mình (Trời, chư Tiên đánh giá cao thơ Tản Đà, đó là nhà thơ tự đánh giá cao). Đây không phải là sự kiêu ngạo, thiếu khiêm tốn trong quan điểm khiêm tốn của xã hội phong kiến ​​Việt Nam. Nhưng đây là việc thật, một cá nhân ý thức được tài năng thực sự của mình (Tản Đà cũng như Nguyễn Công Trứ có cái “ngu” này).

– Giọng hào hứng, phấn khởi, tự hào.

Câu 3. Cảm hứng chủ đạo của bài thơ là cảm hứng lãng mạn, nhưng trong bài thơ có đoạn rất hiện thực. Đó là đoạn nhà thơ Tản Đà nói với Trỗi về nỗi niềm của những người theo nghiệp văn chương trong xã hội thực dân nửa phong kiến ​​lúc bấy giờ:

– Không dính đất.

– Văn học bị lung lay.

– Không đủ ăn.

– Bị áp lực đủ điều.

Chân thực, chi tiết, liệt kê hàng loạt gian truân, tủi hổ của đời mình và của nhiều nhà văn khác. (Tản Đà là một nhà thơ nổi tiếng cả đời nghèo khổ, cuối đời phải mở hiệu bói kiếm sống nhưng không có khách. Chết trong nghèo khó, nhà cửa Những chi tiết này giúp ta hiểu thêm về thực trạng trong lời nói của Tản Đà với Trời. Không chỉ Tản Đà nghèo, Xuân Diệu lúc bấy giờ cũng đã từng than thở:


Xem thêm: Soạn bài tập thực hành chứng minh

Sự tuyệt vọng đang giơ móng vuốt

Cơm áo không đùa với khách thơ.

Nam Cao cũng vậy, khi thất nghiệp, viết văn không đủ sống, phải nương nhờ vợ con…

Câu 4. Những điều mới mẻ và hay về nghệ thuật của bài thơ.

– Thể thơ: thể thơ thất ngôn tự do, không gò bó theo khuôn mẫu nào.

-Ngôn ngữ: hóm hỉnh, duyên dáng, hấp dẫn người đọc.

Bộc lộ cảm xúc: tự do, tự tại.

Dưới ngòi bút của tác giả, các nam thần, nữ thần không hề có một chút đạo đức, ngược lại, các đấng siêu nhiên đó còn có cách thể hiện cảm xúc rất hài hước và bình dân (lè lưỡi, cau mày, tranh nhau kể lể.. . )

II.Thực hành

Câu 1. Trong bài Hầu trời, có nhiều câu thơ Tản Đà công khai nói về tài năng của mình:

-Viết dài là chạy lên mây được rồi

Chúa lắng nghe, nó cũng tốt

Vân giàu rồi nhưng còn nhiều cách

Trời lại vui: “Vạn thật!”

Văn Trăn là vậy chắc ít lắm!

Nhờ viết đẹp như sao!

Khí thế hùng hậu như mây bay!

Lặng lẽ như một làn gió, tinh khiết như sương!

Phá như mưa, lạnh như tuyết!

Thể hiện tài năng với những người thực sự tài năng không phải là hiếm. Hồ Xuân Hương cũng thể hiện tài hoa của mình qua bài thơ:

Khéo léo đi đâu thằng ngu

Đến đây dạy tôi làm thơ

Nguyễn Công Trứ khẳng định “Ông Hi Văn là người có tài…” nhưng có lẽ không phải ai cũng dám nói to cái hay, cái đẹp của thơ ông như Tản Đà. Rõ ràng ý thức cá nhân của nhà thơ rất phát triển. Tạo ra tình huống “Phụng công trời” nhà thơ đã lựa chọn một cách thể hiện tài năng độc đáo, thuyết phục. Ở hạ giới “văn rẻ như bèo” không thể có tri kỷ nên khoe tài chẳng nghĩa lý gì.

Nhà thơ chỉ cao hứng khoe tài với Chúa. Chúa khen ông chứng tỏ tài năng thực sự của ông. Đó là một cách tự khẳng định rất “dại dột” của nhà thơ.

1. “Không” chỉ sự khác thường. “Ngông” trong văn chương chỉ một kiểu ứng xử xã hội và nghệ thuật khác thường ở những nhà văn, nhà thơ có ý thức cá nhân cao. (Trong văn chương, người ta thường nói đến cái “ngông” của Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Tuân, Tản Đà…)

-Cái “ngông” của Tản Đà trong bài thơ này thể hiện ở những điểm sau:

+ Tôi cho rằng mình viết hay đến nỗi Chúa cũng phải công nhận.

+ Tôi không thấy ai đáng để tôi hiểu biết ngoài Thiên đàng và Yêu tinh.

+ Tự xem mình là “thần y” bị “đuổi xuống trần gian vì ngu xuẩn”

+ Tự nhận mình là người trong gia đình Thượng Đế xuống trần gian hành đạo “Thiên Lương”, một sứ mệnh cao cả.

+ Xem đấng siêu nhiên là tri âm, là người thường….


Xem thêm: Soạn bài ôn tập ngữ văn lớp 11 HK 2.


thẻ:
#Cảm #dân #Phụng Trời #Nam Cao #Tản Đà

Bạn thấy bài viết Soạn bài Hầu trời của Tản Đà có giải quyết đươc vấn đề bạn tìm hiểu không?
Nếu không hãy comment góp ý thêm bên dưới để tieuhocchauvanliem.edu.vn có thể chỉnh sửa & cải thiện nội dung tốt hơn cho độc giả nhé!
Cám ơn bạn đã ghé thăm Website Trường Châu Văn Liêm

Chuyên mục: Văn Mẫu Lớp 11

Nguồn: Trường Châu Văn Liêm

Related Articles

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Back to top button